Xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ được không, thực hiện thế nào?
Đăng bởi: Luật sư Nguyễn Văn Đoàn
Thời gian: 22/03/2026

Tìm hiểu các quy trình và phương thức xử lý tài sản bảo đảm một cách hiệu quả nhằm rút ngắn thời gian thu hồi các khoản nợ. Nội dung này chia sẻ từ Luật sư Đoàn mang đến cái nhìn tổng quan về việc thực hiện quyền xử lý tài sản thế chấp, đồng thời phân tích những vướng mắc pháp lý thường gặp và các giải pháp phù hợp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bên thu hồi nợ trong bối cảnh thị trường hiện nay.

Quy định về tài sản bảo đảm

Quy định về tài sản bảo đảm

Trong bối cảnh thị trường có nhiều biến động, việc nắm vững các quy định liên quan đến tài sản bảo đảm đóng vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng trong quá trình quản lý và kiểm soát nợ. Từ tài sản hữu hình như động sản, bất động sản cho đến các quyền tài sản có thể phát sinh trong tương lai, nội dung dưới đây sẽ làm rõ khung pháp lý hiện hành, giúp bạn nhận diện đúng các loại tài sản bảo đảm và áp dụng hiệu quả những biện pháp bảo đảm nghĩa vụ theo quy định pháp luật.

Quyền truy đòi tài sản bảo đảm được quy định tại Điều 7 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/03/2021 của Chính phủ, hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Cụ thể:

Quyền của bên nhận bảo đảm: Khi biện pháp bảo đảm đã phát sinh hiệu lực đối kháng trực diện với người thứ ba. Khi đó quyền của bên nhận bảo đảm đối với tài sản bảo đảm không thay đổi hoặc chấm dứt, ngay cả khi tài sản này bị chuyển giao cho người khác thông qua các hình thức như mua bán, tặng cho, trao đổi, chuyển nhượng hoặc chuyển giao quyền sở hữu khác; hoặc khi người khác chiếm hữu, sử dụng hoặc hưởng lợi từ tài sản bảo đảm mà không có căn cứ pháp luật. 

Trường hợp không áp dụng quyền truy đòi: Quyền truy đòi của bên nhận bảo đảm không áp dụng đối với các tài sản sau:

  • Tài sản bảo đảm đã được bán, chuyển nhượng hoặc chuyển giao quyền sở hữu với sự đồng ý của bên nhận bảo đảm và không tiếp tục được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận.
  • Tài sản thế chấp được bán, thay thế hoặc trao đổi theo quy định tại khoản 4 Điều 321 Bộ luật Dân sự.
  • Tài sản bảo đảm không còn hoặc bị thay thế bằng tài sản khác theo quy định tại Điều 21 Nghị định 21/2021/NĐ-CP.

Quy định về xử lý tài sản bảo đảm

Trong quá trình giải quyết các khoản nợ xấu, hệ thống quy định pháp luật liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm được xem là nền tảng quan trọng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của bên nhận bảo đảm. Nội dung dưới đây sẽ làm rõ các nguyên tắc xử lý tài sản, quyền thu giữ cũng như thứ tự ưu tiên thanh toán theo quy định hiện hành, từ đó giúp tổ chức và cá nhân chủ động hơn trong việc tháo gỡ những vướng mắc về dòng tiền và quá trình thu hồi nợ.

Trường hợp tài sản bảo đảm là quyền khai thác khoáng sản, quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên khác thì việc xử lý tài sản bảo đảm phải phù hợp theo quy định của pháp luật về khoáng sản, pháp luật về tài nguyên thiên nhiên khác và pháp luật có liên quan.

– Bên nhận bảo đảm thực hiện việc xử lý tài sản bảo đảm trên cơ sở thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm thì không cần có văn bản ủy quyền hoặc văn bản đồng ý của bên bảo đảm.

– Trường hợp Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan quy định tài sản đang dùng để bảo đảm phải xử lý để bên bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác thì tài sản này được xử lý theo quy định đó.

– Việc bên nhận bảo đảm xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ không phải là hoạt động kinh doanh tài sản của bên nhận bảo đảm.

Quy trình thu giữ tài sản bảo đảm được pháp luật quy định thế nào?

Theo quy định pháp luật hiện hành, quyền thu giữ tài sản của bên nhận bảo đảm chỉ được thực hiện khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện nhất định, đặc biệt là phải có thỏa thuận rõ ràng trong hợp đồng bảo đảm và thực hiện việc thông báo công khai theo đúng quy định. Việc nắm vững trình tự và thủ tục này không chỉ giúp quá trình thu hồi nợ diễn ra nhanh chóng, hiệu quả hơn mà còn hạn chế nguy cơ phát sinh tranh chấp pháp lý, chẳng hạn như khiếu kiện liên quan đến quyền sở hữu tài sản hoặc các vụ việc kéo dài tại tòa án.

Chậm nhất 15 ngày trước ngày tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm là bất động sản, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ phải thực hiện thủ tục công khai thông tin về thời gian, địa điểm thu giữ tài sản bảo đảm, tài sản bảo đảm được thu giữ, lý do thu giữ.

Trước khi tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm là động sản, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ phải thực hiện thủ tục công khai thông tin về tài sản bảo đảm được thu giữ, lý do thu giữ. 

Tổ chức tín dụng chỉ được ủy quyền thu giữ tài sản bảo đảm cho công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của tổ chức tín dụng đó; tổ chức mua bán, xử lý nợ chỉ được ủy quyền thu giữ tài sản bảo đảm cho tổ chức tín dụng bán nợ, công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của tổ chức tín dụng bán nợ; tổ chức tín dụng được chuyển giao bắt buộc được ủy quyền thu giữ tài sản bảo đảm cho tổ chức tín dụng nhận chuyển giao bắt buộc hoặc công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của tổ chức tín dụng nhận chuyển giao bắt buộc.

Các bước xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ

Các bước xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ

Trình bày chi tiết quy trình xử lý tài sản bảo đảm theo quy định pháp luật hiện hành, bao gồm các bước từ thông báo vi phạm nghĩa vụ, tiến hành thu giữ tài sản cho đến giai đoạn định giá và sử dụng tài sản để thanh toán khoản nợ. Nội dung này cung cấp một lộ trình thực hiện rõ ràng và đúng chuẩn, giúp rút ngắn thời gian thu hồi vốn, hạn chế phát sinh tranh chấp và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của bên nhận bảo đảm.

Thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm

Căn cứ Điều 300 BLDS 2015, trước khi xử lý tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm phải thông báo bằng văn bản trong một thời hạn hợp lý về việc xử lý tài sản bảo đảm cho bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm khác. Trong trường hợp tài sản bảo đảm có nguy cơ bị hư hỏng dẫn đến bị giảm sút giá trị hoặc mất toàn bộ giá trị thì bên nhận bảo đảm có quyền xử lý ngay, đồng thời phải thông báo cho bên bảo đảm và các bên nhận bảo đảm khác về việc xử lý tài sản đó.

Nếu bên bên nhận bảo đảm không thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại khoản 1 Điều 300 BLDS 2015 mà gây thiệt hại thì phải bồi thường cho bên bảo đảm, các bên cùng nhận bảo đảm khác.

Căn cứ khoản 1 Điều 51 Nghị định 21/2021/NĐ-CP quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, văn bản thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm có nội dung chủ yếu sau đây:

  • Lý do xử lý tài sản bảo đảm;
  • Tài sản bảo đảm sẽ bị xử lý;
  • Thời gian, địa điểm xử lý tài sản bảo đảm.

Giao tài sản bảo đảm để xử lý

Quy trình giao tài sản bảo đảm để xử lý được thực hiện theo quy định tại Điều 301 BLDS 2015 và Điều 52 Nghị định 21/2021/NĐ-CP. Theo đó, người đang giữ tài sản bảo đảm có nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm để xử lý khi thuộc một trong các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm. Trường hợp người đang giữ tài sản không giao tài sản thì bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết (trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác).

Xử lý tài sản bảo đảm

Xử lý tài sản bảo đảm sẽ được thực hiện theo các phương thức quy định tại Điều 302 BLDS 2015, cụ thể như sau:

Bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận một trong các phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau đây:

  • Bán đấu giá tài sản;
  • Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản;
  • Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm;

Phương thức khác.

Trong trường hợp bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm không có thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm theo các phương thức cụ thể như đã phân tích trên, tài sản được bán đấu giá  (trừ trường hợp luật có quy định khác).

Hồ sơ cần chuẩn bị cho xử lý tài sản đảm bảo

Việc chuẩn bị đầy đủ và chính xác hồ sơ là yếu tố quan trọng để quá trình xử lý tài sản bảo đảm được thực hiện suôn sẻ và đúng quy định pháp luật. Từ hợp đồng thế chấp, giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản cho đến các văn bản thông báo về việc vi phạm nghĩa vụ, tất cả đều cần được chuẩn bị cẩn trọng. Một bộ hồ sơ hoàn chỉnh không chỉ giúp rút ngắn thời gian thu hồi nợ mà còn đóng vai trò là căn cứ pháp lý vững chắc, bảo vệ quyền và lợi ích của bên nhận bảo đảm trong trường hợp xảy ra tranh chấp.

Hồ sơ đăng ký thông báo xử lý tài sản bảo đảm, đăng ký thay đổi, xóa đăng ký thông báo xử lý tài sản bảo đảm là Phiếu yêu cầu theo Mẫu số 04d tại Phụ lục (01 bản chính).

Hiện nay Mẫu phiếu yêu cầu đăng ký thông báo xử lý tài sản bảo đảm là động sản, cây hằng năm, công trình tạm được quy định tại Mẫu 04d Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 99/2022/NĐ-CP.

Các phương án thanh lý tài sản bảo đảm tối ưu

Trong quá trình xử lý các khoản nợ, yếu tố thời gian luôn gắn liền với chi phí phát sinh. Vì vậy, việc lựa chọn và triển khai các phương án thanh lý tài sản bảo đảm một cách linh hoạt, đồng thời tuân thủ đúng quy định pháp luật, sẽ giúp doanh nghiệp sớm thu hồi nguồn vốn và hạn chế nguy cơ phát sinh tranh chấp kéo dài. Nội dung dưới đây sẽ cung cấp góc nhìn thực tế về những phương thức thanh lý tài sản đang được áp dụng hiệu quả hiện nay, từ đó giúp bạn xây dựng lộ trình xử lý tài sản nhanh chóng, minh bạch và đảm bảo an toàn pháp lý.

Bán đấu giá tài sản

Đấu giá tài sản là phương thức bán tài sản phổ biến nhất để xử lý tài sản bảo đảm và tài sản thi hành án. Bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có thể thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm về việc bán đấu giá tài sản để xử lý tài sản bảo đảm. Như vậy, phương thức bán đấu giá tài sản có thể được sử dụng để xử lý tài sản bảo đảm trong ba trường hợp chính, đó là (i) nếu các bên có thỏa thuận sử dụng phương thức xử lý bảo đảm này, (ii) bán tài sản đã kê biên là động sản có giá trị từ trên 10.000.000 đồng và bất động sản thì do tổ chức bán đấu giá thực hiện; Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự bán đấu giá tài sản kê biên trong các trường hợp sau: Động sản có giá trị từ 2.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng (Điều 101, Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2014), (iii) trong trường hợp không có thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm (khoản 2, Điều 303, Bộ luật dân sự 2015).

Việc bán đấu giá tài sản bảo đảm được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản. Hiện nay, khuôn khổ pháp lý về bán đấu giá tài sản được điều chỉnh bởi Luật Đấu giá tài sản số 01/2016/QH14 ngày 17 tháng 11 năm 2016 có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2017.

Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản

Điều 195, Bộ luật dân sự 2015 quy định “người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền định đoạt tài sản theo ủy quyền của chủ sở hữu hoặc theo quy định của luật”. Tuy nhiên, điểm b, Khoản 1, Điều 303 đã mở ra một ngoại lệ cho bên nhận bảo đảm là người không phải chủ sở hữu của tài sản bảo đảm – được tự bán tài sản bảo đảm. Như vậy, để Ngân hàng được tự mình bán tài sản cầm cố hay thế chấp, chỉ cần các bên có thỏa thuận về phương thức xử lý bảo đảm này, mà không cần có ủy quyền của bên bảo đảm cho Ngân hàng vì mục đích này. Đây là một quy định mới và được kỳ vọng sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho Ngân hàng trong việc xử lý bảo đảm. Đối với phương thức xử lý TSBĐ này cần lưu ý một số điểm sau:

1. Do điều luật này không giới hạn phương thức tự bán tài sản thế chấp nên TCTD có thể trực tiếp ký hợp đồng chuyển nhượng bất động sản với người mua hoặc TCTD ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản với tổ chức đấu giá tài sản (là trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản hay doanh nghiệp đấu giá tài sản) để bán tài sản thế chấp sau khi nhận bàn giao tài sản bảo đảm từ bên thế chấp.

2. Về bàn giao tài sản bảo đảm để xử lý – Điều 301 quy định “người đang giữ tài sản bảo đảm có nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm để xử lý […]. Trường hợp người đang giữ tài sản không giao tài sản thì bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác”. Có thể thấy, không nhất thiết phải quy định về quyền yêu cầu Tòa án can thiệp như trong điều luật này bởi vì đây là một quyền hiển nhiên được pháp luật thừa nhận: Chủ thể của một quyền nhất định luôn có thể yêu cầu Tòa án can thiệp để thực hiện quyền đó của mình. Thêm vào đó, điều luật này cũng như Khoản 5 Điều 323 (áp dụng đối với trường hợp thế chấp) chỉ nêu quyền của bên nhận bảo đảm được yêu cầu bên bảo đảm hoặc người thứ ba giữ tài sản bảo đảm giao tài sản đó cho mình để xử lý, chứ chưa đề cập đến quyền thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý. Các yếu tố này khiến một số người lo ngại việc nhà làm luật chủ định bỏ quyền thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý của Ngân hàng.

Về điểm này cần lưu ý, Điều 307 có nhắc đến “chi phí thu giữ”. Liệu có thể hiểu là điều luật này gián tiếp công nhận quyền thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý của bên nhận bảo đảm?

3. Quy định hiện hành không đặt ra yêu cầu là biên bản bàn giao tài sản giữa các bên phải được công chứng, chứng thực.Tuy nhiên, khi xử lý tài sản bảo đảm theo phương thức này, TCTD cần lưu ý như sau:

– Trường hợp bán tài sản thế chấp thông qua đấu giá: TCTD phải đảm bảo đã chiếm hữu hoặc quản lý trên thực tế đối với tài sản thế chấp để chắc chắn có thể giao được tài sản trên thực tế dưới dạng “chìa khóa trao tay” đúng thời hạn cho người mua được tài sản đã được quy định trong hợp đồng bán đấu giá . TCTD với tư cách là người có tài sản và người có quyền xử lý tài sản bảo đảm ký hợp đồng bán bán đấu giá với tổ chức đấu giá tài sản. Khi tổ chức đấu giá tài sản thông báo phiên bán đấu giá thì TCTD cần lưu ý đề nghị TCTD mời Công chứng viên tham gia trực tiếp, để ngay sau khi các bên ký biên bản đấu giá thành thì Công chứng viên sẽ công chứng luôn hợp đồng mua bán tài sản đấu giá.

– Trường hợp TCTD trực tiếp ký hợp đồng chuyển nhượng cho người mua: ngoài lưu ý về việc có thể giao được tài sản trên thực tế như trên, TCTD cần có biên bản bàn giao tài sản của bên bảo đảm. Nội dung biên bản phải đảm bảo chi tiết đặc biệt các nội dung về việc bên bảo đảm giao cho TCTD toàn quyết quyết định phương thức xử lý tài sản, giá bán tài sản, kê khai và nộp thuế, và thực hiện tất cả các thủ tục khác có liên quan để hoàn tất thủ tục chuyển quyền sở hữu, sử dụng cho người mua… để tránh những tranh chấp, khiếu nại về sau của bên bảo đảm.

Nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ

Quy định hiện hành chỉ cho phép các bên thỏa thuận sử dụng phương thức này nếu nghĩa vụ được bảo đảm ở đây chính là nghĩa vụ của bên bảo đảm. Nói cách khác, phương thức xử lý bảo đảm theo thỏa thuận này không áp dụng cho trường hợp một bên thế chấp hay cầm cố tài sản của mình để bảo đảm cho một bên khác vay vốn tại Ngân hàng. Trong trường hợp này, các bên cần thoả thuận các phương thức xử lý bảo đảm khác.

Về mặt nghiệp vụ kế toán, thuế thì sau khi TCTD nhận tài sản bảo đảm để thay thế nghĩa vụ trả nợ, TCTD sẽ hạch toán giá trị tài sản được nhận vào giá trị tài sản cố định thuộc sở hữu của TCTD. Do đó, giá trị tài sản cố định của TCTD sẽ tăng lên tương ứng. Trong khi đó, theo Điều 140 của Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010 (Luật các tổ chức tín dụng) “tổ chức tín dụng, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài được mua, đầu tư vào tài sản cố định phục vụ trực tiếp cho hoạt động không quá 50% vốn điều lệ và quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ đối với tổ chức tín dụng hoặc không quá 50% vốn được cấp và quỹ dự trữ bổ sung vốn được cấp đối với Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài”.  Do đó, trước khi TCTD thực hiện phương án nhận tài sản bảo đảm để thay thế nghĩa vụ trả nợ thì TCTD cần phải xác định xem sau khi áp dụng phương thức xử lý này có dẫn đến giá trị tài sản cố định của TCTD vượt quá 50% vốn điều lệ và quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của TCTD hay không? Nếu vượt thì TCTD không được phép nhận.

Câu hỏi thường gặp

Quy định về tài sản đảm bảo của ngân hàng

Mỗi ngân hàng đều có các quy định riêng về tài sản bảo đảm, được thiết lập nhằm đảm bảo an toàn cho cả bên vay và ngân hàng. Các quy định này thường xoay quanh ba yếu tố chính:
Giá trị tài sản bảo đảm: Giá trị của tài sản bảo đảm phải đủ lớn để đảm bảo cho khoản vay. Ngân hàng thường sẽ định giá lại tài sản trước khi chấp nhận làm bảo đảm.
Thẩm định và định giá tài sản: Ngân hàng sẽ tiến hành thẩm định tài sản trước khi quyết định chấp nhận tài sản đó làm bảo đảm. Quá trình này bao gồm việc định giá tài sản, xem xét tính pháp lý và khả năng thanh khoản.
Quyền xử lý tài sản bảo đảm: Trong trường hợp người vay không còn khả năng thanh toán khoản vay, ngân hàng có quyền xử lý tài sản bảo đảm thông qua việc bán, chuyển nhượng hoặc đấu giá để thu hồi nợ.
Những quy định này giúp người vay hiểu rõ hơn về trách nhiệm của mình và đảm bảo tài sản bảo đảm đáp ứng đủ các yêu cầu để hoàn tất giao dịch vay vốn một cách minh bạch và an toàn.

Thu giữ tài sản bảo đảm

Theo đó, Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi 2025 đã bổ sung Điều 198a vào Luật Các tổ chức tín dụng 2024 về quyền thu giữ tài sản bảo đảm như sau:
Bên bảo đảm, người đang giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu có nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm kèm theo giấy tờ, hồ sơ pháp lý của tài sản bảo đảm cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ để xử lý theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm hoặc trong văn bản khác (sau đây gọi là hợp đồng bảo đảm) và quy định của pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

Quyền thu giữ tài sản bảo đảm

Cụ thể, bổ sung Điều 198a quy định về quyền thu giữ tài sản bảo đảm, theo các nội dung sau:
1. Bên bảo đảm, người đang giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu có nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm kèm theo giấy tờ, hồ sơ pháp lý của tài sản bảo đảm cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ để xử lý theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm hoặc trong văn bản khác và quy định của pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
2. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ có quyền thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu khi đáp ứng các điều kiện sau đây:
– Khi xảy ra trường hợp xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại Điều 299 của Bộ luật Dân sự;
– Hợp đồng bảo đảm có thỏa thuận về việc bên bảo đảm đồng ý cho bên nhận bảo đảm có quyền thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu khi xảy ra trường hợp xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ;
– Biện pháp bảo đảm đã phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba theo quy định của pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ;
– Tài sản bảo đảm không phải là tài sản tranh chấp trong vụ án đã được thụ lý nhưng chưa được giải quyết hoặc đang được giải quyết tại Tòa án có thẩm quyền; không đang bị Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; không đang bị kê biên hoặc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật; không thuộc trường hợp bị tạm đình chỉ xử lý theo quy định của pháp luật về phá sản;
– Tài sản bảo đảm được thu giữ phải đáp ứng điều kiện theo quy định của Chính phủ;
– Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ đã thực hiện nghĩa vụ công khai thông tin theo quy định tại khoản 3 hoặc khoản 4 Điều này.

Khởi kiện yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm

Trong bối cảnh nền tư pháp của Việt Nam hiện nay, thủ tục khởi kiện bên vay/bên bảo đảm ra Tòa án để yêu cầu giải quyết việc trả nợ thường kéo dài 2 – 3 năm và phát sinh nhiều chi phí. Cho nên, các ngân hàng quan ngại với phương thức thu nợ bằng biện pháp khởi kiện khách hàng ra Tòa án. Hầu hết các ngân hàng đều cho rằng, khởi kiện khách hàng ra Tòa án là biện pháp “cực chẳng đã”, không còn sự lựa chọn nào khác để xử lý tài sản bảo đảm, thu hồi nợ. Thế nhưng khi nộp đơn khởi kiện bên vay và/bên bảo đảm ra Tòa án, quyền khởi kiện của ngân hàng chưa chắc được bảo đảm, ngay cả khi có được bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án, việc xử lý tài sản bảo đảm của người phải thi hành án cũng không dễ dàng.

Rủi ro pháp lý khi thu hồi nợ bằng tài sản bảo đảm

Rủi ro từ phía bên vay (thiếu hợp tác): Người vay có thể cố tình trì hoãn bằng cách không bàn giao tài sản bảo đảm, tìm cách tẩu tán tài sản hoặc phát sinh các tranh chấp mang tính chất giả tạo nhằm kéo dài thời gian xử lý khoản nợ.
Rủi ro liên quan đến hồ sơ và tình trạng pháp lý của tài sản: Tài sản dùng để thế chấp có thể phát sinh vấn đề pháp lý như thuộc sở hữu chung nhưng thiếu chữ ký đồng ý của các đồng sở hữu, đang trong quá trình tranh chấp hoặc đã được chuyển nhượng cho bên thứ ba trước thời điểm thế chấp.
Rủi ro trong quá trình xử lý tài sản (bán hoặc nhận tài sản):
Định giá và bán tài sản: Có trường hợp tài sản khó thanh khoản hoặc giá bán thấp hơn giá trị khoản nợ, khiến bên nhận bảo đảm không thu hồi đủ số tiền đã cho vay.
Nhận tài sản để thay thế nghĩa vụ trả nợ: Khi nhận tài sản thay cho khoản nợ, bên nhận bảo đảm có thể phải gánh thêm chi phí bảo quản, quản lý, đồng thời nguồn vốn bị “đóng băng” trong tài sản trong thời gian dài.
Rủi ro liên quan đến quyền thu giữ tài sản: Sau khi cơ chế đặc thù theo Nghị quyết 42 không còn hiệu lực, việc tự thu giữ tài sản bảo đảm trở nên khó khăn hơn do thiếu cơ chế hỗ trợ cưỡng chế rõ ràng.
Rủi ro trong quá trình tố tụng: Nếu phải khởi kiện ra tòa, vụ việc thường kéo dài và phát sinh nhiều chi phí. Ngoài ra, giai đoạn thi hành án dân sự cũng có thể gặp trở ngại khi tài sản đã bị thay đổi hiện trạng, tẩu tán hoặc phát sinh tranh chấp mới.