Trong bối cảnh kinh tế đầy biến động, việc doanh nghiệp rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán ngày càng trở nên phổ biến. Nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ nợ, cổ đông và đảm bảo sự minh bạch trong quản lý doanh nghiệp, pháp luật Việt Nam đã cập nhật nhiều quy định về phá sản. Bài viết này Luật sư Đoàn sẽ tập trung phân tích trình tự thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp mới năm 2026, giúp các doanh nghiệp và nhà đầu tư nắm rõ các bước cần thực hiện, từ khởi kiện đến kết thúc quá trình phá sản, đồng thời hạn chế rủi ro pháp lý trong quá trình giải quyết.
Trình bày trình tự thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp

Để hiểu rõ cách thức áp dụng pháp luật trong thực tế, trước hết cần trình bày chi tiết trình tự thủ tục phá sản doanh nghiệp, bao gồm các bước từ khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán cho đến khi kết thúc quá trình phá sản.
Theo Luật Phá sản 2014, thủ tục phá sản doanh nghiệp gồm các bước chính:
Bước 1: Nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản: Chỉ người có quyền mới được nộp và đơn phải đầy đủ nội dung theo quy định.
Bước 2: Tòa án nhận và thụ lý đơn: Tòa án kiểm tra tính hợp lệ, thông báo lệ phí, yêu cầu sửa đổi nếu cần và ra quyết định thụ lý.
Bước 3: Mở thủ tục phá sản: Tòa án thông báo cho các bên liên quan, kiểm kê tài sản, lập danh sách chủ nợ và người mắc nợ.
Bước 4: Hội nghị chủ nợ: Triệu tập hội nghị để quyết định đình chỉ, phục hồi hay phá sản doanh nghiệp.
Bước 5: Ra quyết định phá sản: Thẩm phán tuyên bố doanh nghiệp phá sản nếu không thể phục hồi hoặc mất khả năng thanh toán.
Bước 6: Thi hành quyết định phá sản: Thanh lý tài sản và phân chia tiền thu được cho các chủ nợ theo thứ tự ưu tiên.
Ai có quyền nộp đơn tuyên bố phá sản cho doanh nghiệp?
Trước khi tìm hiểu chi tiết về quá trình phá sản, cần làm rõ ai có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản cho doanh nghiệp, bởi đây là bước khởi đầu quan trọng quyết định việc khởi xướng thủ tục pháp lý.
Để xác định đúng đối tượng được khởi xướng thủ tục phá sản, cần làm rõ những chủ thể có quyền nộp đơn theo quy định pháp luật. Theo Điều 5 Luật Phá sản 2014:
- Chủ nợ: Bao gồm chủ nợ không có bảo đảm hoặc chủ nợ có bảo đảm một phần, có quyền nộp đơn khi doanh nghiệp, hợp tác xã không thanh toán khoản nợ đến hạn sau 03 tháng.
- Người lao động và công đoàn: Có quyền nộp đơn khi doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ trả lương, phụ cấp hoặc các khoản nợ khác đến hạn sau 03 tháng.
- Người đại diện theo pháp luật: Có nghĩa vụ nộp đơn khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán.
- Chủ doanh nghiệp, Chủ tịch/Hội đồng quản trị hoặc thành viên hợp danh: Có nghĩa vụ nộp đơn khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán.
- Cổ đông công ty cổ phần: Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% cổ phần phổ thông liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn khi công ty mất khả năng thanh toán; cổ đông dưới 20% chỉ có quyền khi Điều lệ công ty quy định.
Thẩm quyền của tòa án nào giải quyết phá sản doanh nghiệp?

Để tiến hành thủ tục phá sản, việc xác định thẩm quyền giải quyết của tòa án là bước đầu tiên và hết sức quan trọng, bởi nó quyết định cơ quan nào sẽ chịu trách nhiệm xem xét và xử lý vụ việc phá sản doanh nghiệp.
Tòa án nhân dân cấp tỉnh (bao gồm Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã đã đăng ký kinh doanh tại địa phương và thuộc một trong các trường hợp sau:
- Vụ việc phá sản có tài sản hoặc người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài.
- Doanh nghiệp hoặc hợp tác xã mất khả năng thanh toán nhưng có chi nhánh, văn phòng đại diện trải rộng ở nhiều huyện, quận, thị xã hoặc thành phố trong tỉnh.
- Doanh nghiệp hoặc hợp tác xã mất khả năng thanh toán sở hữu bất động sản tại nhiều huyện, quận, thị xã hoặc thành phố trong tỉnh.
- Vụ việc phá sản thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố (sau sáp nhập nay là Tòa án khu vực) nhưng được Tòa án cấp tỉnh thụ lý do tính chất phức tạp.
Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã có trụ sở chính tại địa phương và không thuộc các trường hợp nêu trên theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Luật Phá sản 2014.
Thủ tục thanh toán nợ theo thứ tự khi tuyên bố phá sản
Khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản, việc thanh toán các khoản nợ theo đúng thứ tự ưu tiên đóng vai trò then chốt để đảm bảo quyền lợi cho các chủ nợ và sự công bằng trong quá trình giải quyết phá sản.
Điều 54 Luật Phá sản 2014 thứ tự phân chia thanh toán được quy định như sau:
– Trường hợp Thẩm phán ra quyết định tuyên bố phá sản thì tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã được phân chia theo thứ tự sau:
+ Chi phí phá sản;
+ Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể đã ký kết;
Khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản nhằm mục đích phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã;
+ Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ.
– Trường hợp giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi đã thanh toán đủ các khoản quy định trên mà vẫn còn thì phần còn lại này thuộc về:
+ Thành viên hợp tác xã, hợp tác xã thành viên;
+ Chủ doanh nghiệp tư nhân;
+ Chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên;
+ Thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, cổ đông của công ty cổ phần;
+ Thành viên của Công ty hợp danh.
– Nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Luật Phá sản 2014 thì từng đối tượng cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ.
Câu hỏi thường gặp
Để được công nhận là phá sản, doanh nghiệp phải đáp ứng đồng thời cả 02 điều kiện sau:
– Mất khả năng thanh toán;
– Bị Tòa án nhân dân tuyên bố phá sản.
Để được công nhận là phá sản, doanh nghiệp phải đáp ứng đồng thời cả 02 điều kiện sau:
– Mất khả năng thanh toán;
– Bị Tòa án nhân dân tuyên bố phá sản.
Quản tài viên là người đóng vai trò trung gian quản lý và giám sát tài sản của Doanh nghiệp, Hợp tác xã mất khả năng thanh toán từ thời điểm tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản cho đến khi tòa án tuyên bố một Doanh nghiệp hay một Hợp tác xã phá sản.