Theo quy định của pháp luật, con dưới 36 tháng tuổi thường được ưu tiên giao cho mẹ trực tiếp chăm sóc sau khi ly hôn. Tuy nhiên, nguyên tắc này không được áp dụng trong mọi trường hợp. Nếu người mẹ không bảo đảm điều kiện cần thiết để nuôi dưỡng con, có lối sống không lành mạnh, mắc các tệ nạn xã hội, có hành vi bạo lực hoặc xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của trẻ, Tòa án nhân dân có thể quyết định giao con cho người cha hoặc người khác đủ điều kiện chăm sóc tốt hơn. Cùng Luật sư Đoàn tìm hiểu chi tiết dưới đây.
Căn cứ pháp luật cụ thể về quyền nuôi con sau ly hôn

Quyền trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn là một trong những nội dung thường phát sinh nhiều tranh chấp và đòi hỏi sự xem xét kỹ lưỡng của Tòa án nhân dân. Để bảo đảm lợi ích tốt nhất cho trẻ, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật Hôn nhân và Gia đình với các tiêu chí cụ thể, căn cứ vào độ tuổi của con, điều kiện kinh tế, môi trường sống và khả năng chăm sóc thực tế của cha mẹ nhằm xác định người phù hợp nhất để trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi hôn nhân chấm dứt.
Theo Điều 81 Mục 1 Chương V Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, quyền nuôi con sau ly hôn được quy định nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con cái như sau:
- Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn giữ quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, và giáo dục con khi chưa thành niên (dưới 18 tuổi), con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi sống mình, theo quy định của Luật hôn nhân gia đình 2014, Bộ luật dân sự 2015 và các luật khác có liên quan;
- Vợ và chồng có thể thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con. Trong trường hợp thỏa thuận không thành thì Tòa án sẽ quyết định người nào sẽ trực tiếp nuôi con, dựa trên quyền lợi ở mọi mặt của con. Nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên, quyết định của Tòa án sẽ xem xét nguyện vọng của con;
- Trẻ dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ để trực tiếp nuôi dưỡng, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, và giáo dục con hoặc nếu cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.
Quyền nuôi con khi bé dưới 36 tháng tuổi trong ly hôn quy định thế nào?
Trong các vụ án ly hôn, việc xác định người trực tiếp nuôi con dưới 36 tháng tuổi luôn được pháp luật dành sự quan tâm đặc biệt nhằm bảo đảm điều kiện chăm sóc tốt nhất cho trẻ trong giai đoạn đầu đời. Theo Luật Hôn nhân và Gia đình, đối với nhóm tuổi này, việc giao con cho cha hoặc mẹ được áp dụng theo những nguyên tắc riêng, có tính đặc thù hơn so với các độ tuổi khác, với mục tiêu cao nhất là bảo vệ quyền và lợi ích toàn diện của trẻ em.
Theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định, cụ thể:
“Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.“
Trường hợp nào mẹ không được nuôi con?

Mặc dù pháp luật Việt Nam thường ưu tiên giao con cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, đặc biệt đối với trẻ dưới 36 tháng tuổi, nhưng đây không phải là nguyên tắc áp dụng tuyệt đối trong mọi trường hợp. Tòa án nhân dân có thể quyết định giao con cho cha nếu hai bên có thỏa thuận khác hoặc nếu có căn cứ cho thấy người mẹ không bảo đảm điều kiện cần thiết về vật chất, tinh thần, thời gian chăm sóc và môi trường sống để đáp ứng tốt nhất quyền và lợi ích của trẻ.
Theo quy định Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, hiện nay có 02 trường hợp mẹ không được nuôi con cụ thể như sau:
Trường hợp 1: Người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
Căn cứ theo Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, sau ly hôn, mẹ không được nuôi con nếu không đáp ứng đủ điều kiện dưới đây:
- Về kinh tế: người mẹ không có việc làm ổn định hay các khoản thu nhập ổn định hoặc không có chổ ở ổn định,..
- Về tinh thần: không trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con
- Về năng lực hành vi dân sự: Mẹ bị mất năng lực hành vi dân sự, mắc các bệnh về tâm thần, hoặc các bệnh khác dẫn đến không chăm sóc được cho con.
Trường hợp 2: Người mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên
Theo quy định Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 86 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 ra quyết định người mẹ không được nuôi con, trông nom, chăm sóc, giáo dục con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm hoặc ngắn hơn do Tòa án xem xét, căn cứ vào các trường hợp dưới đây:
– Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Phá tán tài sản của con.
- Có lối sống đồi trụy.
- Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Thu nhập bao nhiêu thì được quyền nuôi con?
Khi giải quyết quyền nuôi con sau ly hôn, pháp luật không ấn định một mức thu nhập cụ thể làm điều kiện bắt buộc để được giao nuôi con. Thay vào đó, Tòa án nhân dân sẽ xem xét liệu thu nhập của bạn có ổn định và đủ để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của trẻ như ăn ở, học tập, chăm sóc y tế và sinh hoạt hằng ngày hay không, đồng thời so sánh tổng thể với điều kiện kinh tế và khả năng chăm sóc của người còn lại để đưa ra quyết định phù hợp nhất với lợi ích của con.
Cũng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật HNGĐ 2014, cụ thể:
Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con
Pháp luật không quy định về mức thu nhập là bao nhiêu thì được giành quyền nuôi con. Mà chỉ nêu rằng Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
Như vậy, việc nói rằng mức thu nhập bao nhiêu là đủ để giành quyền nuôi con sẽ dựa vào các yếu tố như sau: Hoàn cảnh gia đình; Thu nhập thực tế của bố mẹ; Độ tuổi của con; Mức sống tối thiểu ở địa phương;….
Thủ tục tranh chấp quyền nuôi con tại tòa?
Khi cha mẹ không đạt được thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, tranh chấp quyền nuôi con hoặc tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn sẽ được giải quyết tại Tòa án nhân dân theo trình tự tố tụng dân sự chặt chẽ, với mục tiêu cao nhất là bảo đảm quyền và lợi ích tốt nhất cho trẻ. Quy trình này thường bắt đầu bằng việc nộp đơn khởi kiện, cung cấp tài liệu chứng minh điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con, tiếp đến là giai đoạn hòa giải và phiên xét xử công khai theo quy định pháp luật. Việc hiểu rõ từng bước thủ tục không chỉ giúp cha mẹ bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình mà còn góp phần hạn chế những tác động tiêu cực đến tâm lý và sự phát triển của con trẻ.
- Nộp hồ sơ đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bạn đang cư trú.
- Khi nhận đủ hồ sơ Tòa án nhân dân sẽ ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí.
- Sau đó đi nộp tạm ứng án phải và nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí về cho Tòa án.
- Sau khi nộp hồ sơ và biên lai đóng tạm ứng án phí thì Tòa án sẽ thụ lý vụ án và giải quyết vụ án.
- Đợi phán quyết của Toà án.
Câu hỏi thường gặp
Đối với “trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con”, tại Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã giải thích cụ thể như sau:
“Người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con” quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 là trường hợp người mẹ thuộc một trong các trường hợp sau đây:
– Mắc bệnh hiểm nghèo hoặc bị bệnh nặng khác mà không thể tự chăm sóc bản thân hoặc không thể trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;
Ví dụ: Trường hợp người mẹ bị đột quỵ và liệt nửa người, không còn khả năng đi lại thì Tòa án không giao con dưới 36 tháng tuổi cho người mẹ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
– Có thu nhập mỗi tháng thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người mẹ đang cư trú và không có tài sản nào khác để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;
– Người mẹ không có điều kiện về thời gian tối thiểu để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Theo khoản 1 Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, cha (hoặc mẹ) có thể bị Tòa án tước quyền nuôi con nếu phạm một trong các hành vi nghiêm trọng sau đây:
– Bị kết án về tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý, hoặc vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
– Phá tán tài sản của con, như bán, chuyển nhượng, cho vay… mà không phục vụ lợi ích của con.
– Có lối sống đồi trụy, như nghiện ngập, mại dâm, bài bạc…, làm ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của trẻ.
– Xúi giục hoặc ép buộc con vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội, phạm pháp hoặc có hành vi không phù hợp với lứa tuổi.
Hiện nay pháp luật chưa có quy định về trường hợp vợ/chồng ngoại tình thì sẽ không được quyền nuôi con. Việc giao con cho cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn sẽ dựa vào quyền lợi của con và được thực hiện theo đúng quy định pháp luật. Nếu vợ/chồng ngoại tình nhưng vẫn có đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con tốt thì vẫn có thể được giành quyền nuôi con.
a) Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;
b) Phá tán tài sản của con;
c) Có lối sống đồi trụy;
d) Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Để Tòa án xem xét giao cả hai con chung cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn, người yêu cầu cần chứng minh được khả năng nuôi con, đáp ứng đồng thời các điều kiện bắt buộc dưới đây. Những điều kiện này là nền tảng giúp thuyết phục Tòa rằng việc để hai con sống chung một nơi phù hợp hơn so với phương án chia tách.
Kinh tế và thu nhập
Nơi ở, môi trường sống
Thời gian chăm sóc, giáo dục con
Đạo đức, nhân cách và sức khỏe của người trực tiếp nuôi dưỡng
Nguyện vọng của con (nếu từ đủ 7 tuổi trở lên)
Chứng cứ về bất lợi của bên còn lại (nếu có).