Trong bối cảnh hội nhập kinh tế và mở rộng hoạt động kinh doanh, việc hợp tác thông qua các công ty liên doanh, liên kết ngày càng trở thành lựa chọn phổ biến của nhiều doanh nghiệp. Tuy nhiên, để đảm bảo tính minh bạch, hiệu quả và tuân thủ pháp luật, các doanh nghiệp cần nắm rõ quy định về đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết theo các văn bản pháp lý hiện hành. Việc hiểu và áp dụng đúng quy định về đầu tư vào công ty liên doanh liên kết từ Luật sư Đoàn không chỉ giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro pháp lý mà còn tạo nền tảng vững chắc cho quá trình hợp tác, quản trị và phát triển bền vững trong dài hạn.
Công ty liên doanh liên kết là gì?

Trước khi tìm hiểu các quy định và cách thức đầu tư, doanh nghiệp cần hiểu rõ bản chất của mô hình công ty liên doanh, liên kết. Đây là hình thức hợp tác khá phổ biến giữa các doanh nghiệp nhằm tận dụng nguồn lực, kinh nghiệm và thị trường của nhau.
Công ty liên doanh liên kết là các doanh nghiệp được hình thành từ sự hợp tác, góp vốn giữa hai hoặc nhiều bên (trong nước hoặc quốc tế) nhằm mục đích cùng kinh doanh, chia sẻ lợi nhuận, rủi ro mà không bên nào nắm quyền kiểm soát tuyệt đối.
Đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết là tài sản hay nguồn vốn?
Trong quá trình hạch toán và lập báo cáo tài chính, nhiều doanh nghiệp thường băn khoăn về cách ghi nhận khoản đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết. Việc xác định đúng bản chất kế toán của khoản đầu tư này có ý nghĩa quan trọng đối với việc phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp.

Đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết được phân loại là tài sản dài hạn (đầu tư tài chính dài hạn) của doanh nghiệp trên bảng cân đối kế toán. Đây là khoản vốn doanh nghiệp bỏ ra nhằm tìm kiếm lợi nhuận, quyền kiểm soát hoặc ảnh hưởng đáng kể, được ghi nhận tại khoản mục “Đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết”.
Sự khác biệt kế toán đầu tư liên doanh và liên kết
Mặc dù đều là hình thức góp vốn hợp tác giữa các doanh nghiệp, nhưng việc ghi nhận và hạch toán kế toán đối với đầu tư liên doanh và đầu tư vào công ty liên kết có những điểm khác biệt nhất định. Sự khác nhau này xuất phát từ mức độ kiểm soát, quyền biểu quyết cũng như phương pháp kế toán được áp dụng.
Sự khác biệt chính giữa kế toán đầu tư liên doanh và liên kết nằm ở mức độ kiểm soát và phương pháp hợp nhất báo cáo. Liên doanh dựa trên quyền kiểm soát chung giữa các bên, thường hạch toán theo phương pháp vốn chủ sở hữu, trong khi liên kết chỉ thể hiện ảnh hưởng đáng kể mà không kiểm soát, sử dụng phương pháp vốn chủ sở hữu trên báo cáo tài chính hợp nhất.
Khi nào ngừng ghi nhận đầu tư liên doanh liên kết?
Trong quá trình đầu tư, doanh nghiệp không phải lúc nào cũng tiếp tục ghi nhận khoản đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết trên báo cáo tài chính. Trong một số trường hợp nhất định, theo quy định kế toán, doanh nghiệp phải thực hiện việc ngừng ghi nhận khoản đầu tư này. Vậy khi nào doanh nghiệp cần ngừng ghi nhận đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết?
Việc ngừng ghi nhận đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết (ghi giảm khoản đầu tư trên sổ sách) xảy ra khi nhà đầu tư không còn quyền đồng kiểm soát (đối với liên doanh) hoặc không còn ảnh hưởng đáng kể (đối với liên kết). Thời điểm cụ thể là khi thoả thuận hợp đồng kết thúc hoặc khi thực tế thoái vốn, không còn giữ tỷ lệ quyền biểu quyết đủ lớn.
Bút toán thu hồi vốn đầu tư từ công ty liên kết
Khi doanh nghiệp thực hiện thoái vốn hoặc thu hồi một phần vốn đã đầu tư vào công ty liên kết, kế toán cần ghi nhận đầy đủ các nghiệp vụ phát sinh theo đúng quy định. Việc hạch toán chính xác giúp phản ánh đúng giá trị khoản đầu tư và kết quả tài chính của doanh nghiệp.
Việc điều chỉnh giá trị khoản đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết từ sau ngày đầu tư đến đầu kỳ báo cáo được hướng dẫn chi tiết tại Điều 65 Thông tư 202/2014/TT-BTC như sau:
(1) Đối với phần điều chỉnh giá trị khoản đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết được ghi nhận vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của các kỳ trước, Nhà đầu tư xác định số đã điều chỉnh (lũy kế) thuần, ghi:
– Nếu điều chỉnh tăng giá trị khoản đầu tư, ghi:
Nợ Đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết
Có Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối lũy kế đến cuối kỳ trước.
– Nếu điều chỉnh giảm giá trị khoản đầu tư, ghi:
Nợ Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối lũy kế đến cuối kỳ trước.
Có Đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết.
(2) Đối với phần điều chỉnh giá trị khoản đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết do chênh lệch đánh giá lại tài sản được ghi nhận vào Bảng cân đối kế toán của các kỳ trước, Nhà đầu tư xác định số đã điều chỉnh (lũy kế) thuần, ghi:
– Nếu điều chỉnh tăng giá trị khoản đầu tư, ghi:
Nợ Đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết
Có Chênh lệch đánh giá lại tài sản.
– Nếu điều chỉnh giảm giá trị khoản đầu tư, ghi:
Nợ Chênh lệch đánh giá lại tài sản.
Có Đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết.
(3) Đối với phần điều chỉnh giá trị khoản đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết do chênh lệch tỷ giá hối đoái được ghi nhận vào Bảng cân đối kế toán của các kỳ trước, Nhà đầu tư xác định số đã điều chỉnh (lũy kế) thuần, ghi:
– Nếu điều chỉnh tăng giá trị khoản đầu tư, ghi:
Nợ Đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết
Có Chênh lệch tỷ giá hối đoái.
– Nếu điều chỉnh giảm giá trị khoản đầu tư, ghi:
Nợ Chênh lệch tỷ giá hối đoái.
Có Đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết.
Câu hỏi thường gặp
Công ty liên kết là doanh nghiệp mà nhà đầu tư có ảnh hưởng đáng kể nhưng không kiểm soát hoặc đồng kiểm soát các chính sách tài chính và hoạt động. Thông thường, ảnh hưởng đáng kể được xác định khi nhà đầu tư nắm giữ từ 20% đến dưới 50% quyền biểu quyết. Tuy nhiên, tỷ lệ dưới 20% vẫn có thể được coi là có ảnh hưởng đáng kể nếu nhà đầu tư tham gia vào các quyết định quản lý; ngược lại, trên 20% nhưng không có quyền tham gia quản lý thì có thể không được xem là công ty liên kết.
Công ty con là doanh nghiệp chịu sự kiểm soát của công ty mẹ, thường khi công ty mẹ nắm giữ trên 50% quyền biểu quyết hoặc có quyền quyết định các chính sách tài chính và hoạt động. Trong báo cáo tài chính riêng, khoản đầu tư vào công ty con được ghi nhận theo giá gốc, khi góp vốn kế toán ghi tăng tài khoản đầu tư tài chính dài hạn và giảm tiền hoặc tài sản dùng để góp vốn (Nợ TK 221, Có TK 111, 112, 211, 152…). Đối với báo cáo tài chính hợp nhất, công ty mẹ phải hợp nhất báo cáo của công ty con để phản ánh tình hình tài chính của toàn bộ tập đoàn như một doanh nghiệp duy nhất.
Khi doanh nghiệp nhận vốn góp liên doanh, kế toán ghi nhận giá trị tiền hoặc tài sản nhận góp vốn theo bản chất giao dịch. Tài sản góp vốn có thể là tiền, tài sản cố định, hàng tồn kho hoặc các tài sản khác theo giá trị được các bên thỏa thuận hoặc định giá. Nếu góp vốn bằng tiền, kế toán ghi Nợ TK 111, 112; Có TK 411 – Vốn đầu tư của chủ sở hữu. Nếu góp vốn bằng tài sản, kế toán ghi Nợ các TK tài sản như 211, 152, 156…; Có TK 411. Việc ghi nhận đúng nghiệp vụ giúp phản ánh chính xác quy mô vốn, cơ cấu tài sản và quyền lợi của các bên trong liên doanh.