Tranh chấp kinh doanh là gì, cách giải quyết tranh chấp kinh doanh
Đăng bởi: Luật sư Nguyễn Văn Đoàn
Thời gian: 12/04/2026

Trong môi trường kinh tế thị trường đầy cạnh tranh, tranh chấp kinh doanh là hệ quả khó tránh khi xuất hiện mâu thuẫn về lợi ích, quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể. Những xung đột này không chỉ phát sinh từ vi phạm hợp đồng mà còn phản ánh mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp lý và khả năng quản trị rủi ro của doanh nghiệp. Việc nhận diện đúng bản chất tranh chấp là bước khởi đầu quan trọng để các bên tìm ra hướng giải quyết phù hợp và bảo vệ lợi ích của mình trong hoạt động kinh doanh. Những điều này sẽ có trong bài viết Luật sư Đoàn chia sẻ chi tiết dưới đây.

Tranh chấp kinh doanh là gì?

Tranh chấp kinh doanh là gì?

Tranh chấp kinh doanh là những xung đột phát sinh giữa cá nhân hoặc tổ chức trong quá trình tiến hành hoạt động thương mại nhằm mục đích lợi nhuận. Các mâu thuẫn này thường liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng, hoặc các vấn đề nảy sinh từ quản lý nội bộ và cạnh tranh trên thị trường. Việc hiểu rõ bản chất tranh chấp sẽ giúp doanh nghiệp bảo vệ quyền lợi hợp pháp, đồng thời lựa chọn phương án giải quyết phù hợp như thương lượng, trọng tài hoặc khởi kiện tại tòa án.

Các cách giải quyết tranh chấp kinh doanh

Hiện nay, tranh chấp kinh doanh có thể là tranh chấp hợp đồng hợp tác kinh doanh, hay những người mua và bán có thể được xử lý thông qua bốn phương thức chủ yếu gồm: thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại và giải quyết tại tòa án. Mỗi cách tiếp cận đều có những lợi thế riêng về chi phí, thời gian xử lý cũng như mức độ bảo mật, giúp bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia. Việc lựa chọn phương thức phù hợp không chỉ giúp doanh nghiệp giải quyết mâu thuẫn hiệu quả mà còn góp phần duy trì quan hệ hợp tác và uy tín trên thị trường.

Giải quyết tranh chấp bằng Thương lượng

Giải quyết tranh chấp bằng Thương lượng là hình thức giải quyết tranh chấp mà các bên cùng nhau bàn bạc và đi đến thỏa thuận, một cách thức giải quyết tranh chấp mà không cần đến sự tác động hay giúp đỡ của bên thứ ba. Nếu việc thương lượng thành công sẽ cho phép hai bên đạt đến một sự thỏa thuận. Thỏa thuận này được thừa nhận như một hợp đồng, sự thống nhất ý chí giữa các bên, là “luật” giữa các bên và các bên phải có nghĩa vụ thực hiện. Trong thực tiễn, hầu hết các trường hợp có tranh chấp phát sinh thì các bên thường tự nguyện và nhanh chóng liên hệ, gặp gỡ nhau để thương lượng, tìm cách tháo gỡ bất đồng, với mục đích chung là giữ mối quan hệ kinh doanh tối đẹp và lâu giữa họ. Có thể coi đây là hình thức thương lượng để đạt được sự thỏa thuận chung về bất đồng phát sinh, vừa là một hình thức giải quyết tranh chấp. Pháp luật của nhiều nước trên thế giới trong đó có Luật Thương mại Việt Nam khuyến khích các bên giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng giữa các bên sau đó mới sử dụng phương thức khác. Tuy nhiên, pháp luật không bắt buộc các bên phải thương lượng trước khi giải quyết bằng các phương thức tài phán như trọng tài hoặc tòa án.

Đặc điểm cơ bản của thương lượng là các bên cùng nhau trình bày, phát biểu quan điểm, chính kiến, bàn bạc, tìm các biện pháp thích hợp và đi đến thống nhất thỏa thuận để tự giải quyết các bất đồng.

Thương lượng đã được xem là một phương thức giải quyết được ưa chuộng vì những ưu điểm như: Ít tốn kém về thời gian, về tiền bạc, ít căng thẳng về tâm lý vì không giải quyết công khai (như xét xử), ít gây hại đến quan hệ hợp tác vốn có của các bên, không gây tác động xấu trong kinh doanh, quan hệ hai bên vẫn cũng cố khi thương lượng thành công, Hình thức giải quyết đơn giản, gọn nhẹ, nhanh chóng và hiệu quả. Bên cạnh những ưu thì thương lượng cũng có những hạn chế như: Hình thức thương lượng chỉ thích hợp đối với các bên thực sự có thiện chí muốn tìm giải pháp đối với tranh chấp. Bên muốn kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ thì lợi dụng thương lượng để kéo dài thời gian, hơn nữa thương lượng thường được giải quyết khép kín, không công khai có khi lại nảy sinh những tiêu cực, trái pháp luật và khi các bên đạt được kết quả thỏa thuận thành cũng không có cơ chế bắt buộc các bên thực hiện.

Giải quyết tranh chấp bằng Hòa giải

“Hoà giải thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại do các bên thoả thuận và được hòa giải viên thương mại làm trung gian hòa giải hỗ trợ giải quyết tranh chấp”. Có thể nói Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua sự tham gia của bên thứ ba, đóng vai trò trung gian để hỗ trợ hoặc thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm các giải pháp nhằm chấm dứt xung đột hoặc bất hòa… Bên trung gian đóng vai trò hỗ trợ đôi bên đi đến giải pháp có lợi nhất cho đôi bên, có khi bên trung gian hòa giải thuyết phục đôi bên chấp nhận giải pháp do họ đề ra, chấm dứt xung đột. Pháp luật không khẳng định cá nhân nào, tổ chức nào, cơ quan nào được làm trung gian hòa giải, mà đây là sự thống nhất đôi bên tranh chấp lựa chọn trung gian hòa giải. Hiện nay, trong hoạt động thương mại quốc tế, phương pháp hoà giải rất được ưa chuộng dùng để giải quyết tranh chấp. Cũng như thương lượng, hòa giải là giải pháp tự nguyện, tùy thuộc vào sự lựa chọn của các bên tham gia tranh chấp. Về mặt nguyên tắc, bên thứ ba đứng làm trung gian hòa giải không có quyền quyết định mà chỉ sử dụng kỹ năng và áp dụng các biện pháp mang tính kỹ thuật để giúp các bên đạt được giải pháp trung hòa, còn giải pháp có đạt được hay không vẫn là sự tự định đoạt của đôi bên.

Ưu điểm và khuyết điểm của hình thức “Hòa giải” giống như hình thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, đây là hình thức giải quyết tranh chấp rất có hiệu quả, được giới kinh doanh ưa chuộng, giữ vai trò quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp thương mại ở các quốc gia khác. Theo thông lệ chung, hòa giải có thể được tiến hành ngoài thủ tục tố tụng và cũng có thể được thực hiện theo thủ tục tố tụng của Tòa án hoặc Trọng tài. Thực tế cho thấy, kết quả hòa giải chủ yếu phụ thuộc vào hai yếu tố : Một là, Thiện chí giữa các bên tham gia tranh chấp, nhằm mềm hóa các xung đột với mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ hợp tác, làm ăn lâu dài. Hai là, uy tín, kinh nghiệm và kỹ năng của người đứng ra làm trung gian hòa giải.

Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài

Theo quy định tại khoản 1, Điều 3, Luật Trọng tài thương mại năm 2010: “Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này”. Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài là một hình thức giải quyết tranh chấp không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường và ngày càng được ưa chuộng. Đó là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của Hội đồng Trọng tài hoặc Trọng tài viên với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm giải quyết mâu thuẫn tranh chấp bằng việc đưa ra phán quyết có giá trị bắt buộc các bên phải thi hành.

Ưu điểm của phương thức giải quyết tranh chấp này là có tính linh hoạt, tạo quyền chủ động cho các bên; tính nhanh chóng, tiết kiệm được thời gian có thể rút ngắn thủ tục tố tụng Trọng tài và đảm bảo bí mật. Trọng tài tiến hành giải quyết tranh chấp theo nguyên tắc án, quyết định Trọng tài không được công bố công khai, rộng rãi. Theo nguyên tắc này họ có thể giữ được bí quyết kinh doanh cũng như danh dự, uy tín của mình. Giải quyết Trọng tài không bị giới hạn về mặt lãnh thổ do các bên có quyền lựa chọn bất kỳ trung tâm Trọng tài nào để giải quyết tranh chấp cho mình. Phán quyết của Trọng tài có tính chung thẩm, đây là ưu thế vượt trội so với hình thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hòa giải. Sau khi Trọng tài đưa ra phán quyết thì các bên không có quyền kháng cáo trước bất kỳ một tổ chức hay Tòa án nào. Tuy vậy, phương thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài cũng tồn tại một số nhược điểm như chi phí tương đối cao, vụ việc giải quyết càng kéo dài thì phí Trọng tài càng cao.

Giải quyết tranh chấp bằng Tòa án.

Giải quyết tranh chấp bằng Toà án là hình thức giải quyết tranh chấp do cơ quan tài phán Nhà nước thực hiện. Toà án nhân danh quyền lực Nhà nước để đưa ra phán quyết buộc bên có nghĩa vụ phải thi hành, kể cả bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước. Do đó các đương sự thường tìm đến sự trợ giúp của Tòa án như một giải pháp để bảo vệ có hiệu quả các quyền, lợi ích của mình khi họ thất bại trong việc sử dụng cơ chế thương lượng hoặc hoà giải và cũng không muốn đưa vụ tranh chấp của họ để giải quyết bằng Trọng tài. Thông thường thì hình thức giải quyết tranh chấp thương mại thông qua Tòa án được tiến hành khi mà việc áp dụng cơ chế thương lượng, hòa giải không có hiệu quả và các bên tranh chấp cũng không có thỏa thuận đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài hay hòa giải.

Phân loại tranh chấp kinh doanh thương mại

Việc phân loại tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh thương mại là bước cần thiết để xác định đúng thẩm quyền và lựa chọn phương thức giải quyết phù hợp. Thông thường, các tranh chấp được chia thành hai nhóm chính: mâu thuẫn giữa các chủ thể kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận và tranh chấp nội bộ giữa doanh nghiệp với các thành viên góp vốn. Hiểu rõ cách phân loại này sẽ giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong việc kiểm soát rủi ro pháp lý, đồng thời xây dựng chiến lược bảo vệ quyền lợi hiệu quả tại Tòa án hoặc Trọng tài.

Trước hết, cần hiểu thế nào là tranh chấp thương mại. Có nhiều cách hiểu khác nhau về dạng tranh chấp này, song từ góc độ pháp lý, có thể định nghĩa tranh chấp thương mại như sau: Tranh chấp thương mại là sự bất đồng quan điểm giữa các bên về việc một hoặc một số bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ mà mình cam kết trong hoạt động thương mại gây thiệt hại tới lợi ích chính đáng của một hoặc một số bên khác[1]. Từ thuật ngữ “tranh chấp thương mại” có thể thấy, bản chất của nó chính là một loại tranh chấp đặt trong quan hệ lĩnh vực thương mại. Tranh chấp này được thể hiện bằng sự bất đồng quan điểm giữa các bên, được hiểu là sự nhìn nhận các vấn đề trái ngược nhau từ phía – gắn với các chủ thể (ví dụ, bên bán cho rằng bên mua đã giao hàng cho mình không đúng chất lượng theo hợp đồng đã được ký kết, song bên mua thì không thừa nhận điều đó).

Ở đây, chúng tôi không đi sâu phân tích việc hiểu thế nào cho đúng về tranh chấp thương mại, mà tập trung phân tích việc phân loại các tranh chấp thương mại và ý nghĩa của việc phân loại đó. Theo Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, các tranh chấp thương mại được chia ra làm 05 loại. Đó là: (i) Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; (ii) Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; (iii) Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty; (iv) Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty; (v) Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh ở Việt Nam

Hiện nay, thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh tại Việt Nam được phân định cụ thể giữa Tòa án nhân dân và các tổ chức trọng tài thương mại. Việc xác định đúng cơ quan giải quyết không chỉ phụ thuộc vào bản chất vụ việc mà còn căn cứ vào thỏa thuận lựa chọn của các bên trong hợp đồng. Hiểu rõ quy định về thẩm quyền sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, chi phí và đảm bảo hiệu lực thi hành của bản án hoặc phán quyết.

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh ở Việt Nam

Điều 40. Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu

1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:

a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;

b) Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết;

c) Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;

d) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết;

đ) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác đối với người lao động thì nguyên đơn là người lao động có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;

e) Nếu tranh chấp phát sinh từ việc sử dụng lao động của người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi người sử dụng lao động là chủ chính cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi người cai thầu, người có vai trò trung gian cư trú, làm việc giải quyết;

Thực trạng giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án

Tình hình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án hiện nay cho thấy số lượng vụ việc ngày càng gia tăng, đồng thời mức độ phức tạp của các giao dịch trên thị trường cũng không ngừng cao hơn. Dù hệ thống tư pháp đã có nhiều cải tiến về thủ tục, quá trình xét xử vẫn gặp không ít khó khăn như thời gian xử lý kéo dài và áp lực tồn đọng hồ sơ. Việc nhận diện rõ thực trạng này sẽ giúp các bên chủ động trong việc chuẩn bị chứng cứ và xây dựng chiến lược pháp lý phù hợp nhằm bảo vệ quyền lợi một cách hiệu quả.

TAND thành phố Hà Nội có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Trong cơ cấu tổ chức của TAND thành phố Hà Nội, Tòa Kinh tế là Tòa án có thẩm quyền giải quyết các vụ án tranh chấp về hợp đồng KDTM. Những tranh chấp về hợp đồng KDTM được xác định thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND thành phố Hà Nội đã được làm rõ phù hợp với Luật Thương mại và Luật Doanh nghiệp….là những tranh chấp phát sinh trong hoạt động KDTM giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Cụ thể: Sơ thẩm đối với những tranh chấp KDTM thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh; Giải quyết theo thủ tục phúc thẩm những vụ việc, bản án KDTM chưa có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật TTDS.

Ngoài ra, TAND thành phố Hà Nội có thẩm quyền giải quyết theo lãnh thổ đối với những tranh chấp KDTM nếu nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở; nơi có bất động sản nếu tài sản tranh chấp là bất động sản thuộc phạm vi hành chính của thành phố Hà Nội hoặc do hai bên đương sự thỏa thuận lựa chọn TAND thành phố Hà Nội là nơi giải quyết tranh chấp.

Câu hỏi thường gặp

Tranh chấp nào không phải là tranh chấp trong kinh doanh?

Những mâu thuẫn không thuộc tranh chấp kinh doanh, thương mại là các xung đột không phát sinh từ hoạt động sinh lợi giữa các chủ thể kinh doanh, mà thường mang tính dân sự hoặc liên quan đến quan hệ tiêu dùng. Chẳng hạn, tranh chấp giữa cửa hàng bán lẻ và khách hàng về chất lượng hàng hóa là một ví dụ điển hình.

Sự khác biệt tranh chấp kinh doanh và tranh chấp dân sự

Tranh chấp Dân sự
Đối với tranh chấp dân sự, các bên tranh chấp bất đồng, xung đột lợi ích pháp lý giữa ít nhất hai bên trong lĩnh vực dân sự.
Đối với tranh chấp dân sự, không cần yêu cầu các bên phải có mục đích lợi nhuận.
Những tranh chấp dân sự giải quyết thông qua các hình thức như thương lượng, hoà giải, khởi kiện ra Toà án yêu cầu giải quyết.
Tranh chấp kinh doanh
Tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn (bất đồng) giữa hai bên hợp tác với nhau về quyền, nghĩa vụ trong quá trình hoạt động kinh doanh thương mại.
Đối với tranh chấp thương mại, các bên tranh chấp đều có mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
Đối với những tranh chấp kinh doanh thương mại có thể giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng, hoà giải, trọng tài thương mại hoặc khởi kiện ra Toà án.