Nhãn hiệu hàng hóa không chỉ là dấu hiệu giúp phân biệt sản phẩm, dịch vụ trên thị trường mà còn là một tài sản vô hình có giá trị đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhiều cá nhân và tổ chức vẫn băn khoăn liệu nhãn hiệu hàng hóa là tài sản hay nguồn vốn theo quy định pháp luật. Bài viết dưới đây từ Luật sư Đoàn sẽ làm rõ bản chất pháp lý của nhãn hiệu và cách thức sử dụng nhãn hiệu trong hoạt động kinh doanh, góp vốn.
Nhãn hiệu hàng hóa là tài sản hay nguồn vốn?

Để xác định nhãn hiệu hàng hóa là tài sản hay nguồn vốn, cần xem xét bản chất pháp lý của nhãn hiệu theo quy định hiện hành và vai trò của đối tượng này trong hoạt động đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp.
Nhãn hiệu hàng hóa là tài sản, cụ thể là một loại tài sản vô hình thuộc quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân. Khi đáp ứng các điều kiện theo quy định pháp luật và kế toán, nhãn hiệu có thể được ghi nhận trên sổ sách kế toán, định giá, chuyển nhượng, cho phép sử dụng hoặc dùng để góp vốn vào doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhãn hiệu không phải là nguồn vốn mà là một loại tài sản được hình thành từ các nguồn vốn của doanh nghiệp hoặc chủ sở hữu.
Mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn là gì?
Tài sản và nguồn vốn là hai yếu tố có mối quan hệ mật thiết trong hoạt động tài chính, kế toán của doanh nghiệp. Việc hiểu rõ mối quan hệ này giúp xác định nguồn hình thành và cơ cấu của các loại tài sản đang được sử dụng.
Tài sản và nguồn vốn có mối quan hệ chặt chẽ, phản ánh hai mặt của cùng một nguồn lực trong doanh nghiệp. Nếu tài sản cho biết doanh nghiệp đang sở hữu và sử dụng những gì thì nguồn vốn cho biết các tài sản đó được hình thành từ đâu, như vốn chủ sở hữu hay các khoản nợ phải trả. Theo nguyên tắc kế toán, tổng giá trị tài sản luôn bằng tổng nguồn vốn, thể hiện qua phương trình: Tài sản = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu.
Thủ tục góp vốn kinh doanh bằng nhãn hiệu hàng hóa
Nhãn hiệu hàng hóa là một loại tài sản sở hữu trí tuệ có thể được sử dụng để góp vốn vào doanh nghiệp nếu đáp ứng các điều kiện pháp luật quy định. Thủ tục góp vốn bằng nhãn hiệu cần được thực hiện đúng trình tự để bảo đảm quyền và lợi ích của các bên liên quan.

Việc góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ được thực hiện theo các bước sau đây:
Bước 1: Định giá tài sản
Theo khoản 1 Điều 36 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định tài sản góp vốn không phải là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức thẩm định giá định giá và được thể hiện thành Đồng Việt Nam.
Do đó, quyền sở hữu trí tuệ phải được định giá và thể hiện thành Đồng Việt Nam.
– Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên, cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc đồng thuận hoặc do một tổ chức thẩm định giá định giá.
– Trường hợp tổ chức thẩm định giá định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được trên 50% số thành viên, cổ đông sáng lập chấp thuận.
– Trường hợp tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế của tài sản đó tại thời điểm góp vốn thì các thành viên, cổ đông sáng lập cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế.
Bước 2: Lập hợp đồng góp vốn
Trong hợp đồng góp vốn, cần phải thể hiện được đầy đủ các nội dung cơ bản của việc góp vốn như: Bên góp vốn, Bên nhận góp vốn (tên, địa chỉ, …); Quyền sở hữu trí tuệ cụ thể ( Chủ giấy chứng nhận/ chủ bằng độc quyền,…; số đơn; ngày nộp đơn; quyết định cấp; thời hạn bảo hộ,…); giá trị quyền sở hữu trí tuệ; thời hạn góp vốn; mục đích góp vốn; đăng ký góp vốn và nộp lệ phí; cam đoan của các bên,…
Bước 3: Chuyển quyền sở hữu trí tuệ sang cho doanh nghiệp
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp, tài sản quyền sở hữu trí tuệ phải chuyển quyền sở hữu trí tuệ cho doanh nghiệp. Do đó, các cá nhân tổ chức chuyển quyền sở hữu chí tuệ thông qua việc thay đổi chủ sở hữu đối với quyền sở hữu trí tuệ đó tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Căn cứ khoản 6 Điều 87 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 thì nhãn hiệu khi chuyển giao quyền sở hữu phải được thực hiện dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản.
Do đó, các cá nhân tổ chức muốn chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ cho doanh nghiệp thì cần phải thực hiện chuyển giao quyền sở hữu dưới hình thức hợp đồng lập bằng văn bản.
Điều kiện để nhãn hiệu được ghi nhận là tài sản trên sổ sách
Không phải mọi nhãn hiệu đều được ghi nhận là tài sản trên sổ sách kế toán. Việc ghi nhận chỉ được thực hiện khi nhãn hiệu đáp ứng các điều kiện nhất định về quyền sở hữu, khả năng xác định giá trị và quy định của pháp luật kế toán.
Để được ghi nhận là tài sản trên sổ sách kế toán, nhãn hiệu phải thuộc quyền sở hữu hợp pháp của doanh nghiệp, xác định được giá trị một cách đáng tin cậy và dự kiến mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai.
Đồng thời, nhãn hiệu cần đáp ứng các điều kiện ghi nhận tài sản vô hình theo quy định của pháp luật kế toán, chẳng hạn như có hồ sơ chứng minh quyền sở hữu và chi phí hình thành được xác định rõ ràng.
Quyền lợi khi đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam
Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa giúp chủ sở hữu xác lập quyền hợp pháp đối với nhãn hiệu và tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ thương hiệu trước các hành vi xâm phạm. Đăng ký bản quyền nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam giúp bạn xác lập quyền sở hữu hợp pháp, độc quyền sử dụng, và bảo vệ tài sản trước các hành vi sao chép. Đây là cơ sở pháp lý cao nhất để bạn yêu cầu cơ quan chức năng xử lý hàng giả, đồng thời tạo tiền đề vững chắc cho việc nhượng quyền thương mại.
Câu hỏi thường gặp
Nhãn hiệu hàng hóa được xem là một loại tài sản vô hình và có thể được định giá để phục vụ các mục đích như góp vốn, chuyển nhượng, mua bán hoặc ghi nhận trên sổ sách kế toán. Việc định giá nhãn hiệu thường được thực hiện theo các phương pháp như phương pháp chi phí, phương pháp thị trường hoặc phương pháp thu nhập, tùy thuộc vào mục đích định giá và đặc điểm của nhãn hiệu.
Mặc dù đều là tài sản vô hình, nhãn hiệu có chức năng chính là giúp phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau trên thị trường. Trong khi đó, các tài sản vô hình khác như sáng chế, bản quyền, bí mật kinh doanh hoặc phần mềm máy tính lại bảo hộ những đối tượng và quyền lợi khác nhau. Vì vậy, phạm vi bảo hộ, cách thức khai thác và giá trị thương mại của nhãn hiệu cũng có những đặc điểm riêng biệt so với các loại tài sản vô hình khác.
Nguồn vốn dài hạn là nguồn vốn có thời gian sử dụng từ trên một năm và được doanh nghiệp sử dụng để đầu tư vào tài sản dài hạn hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh lâu dài. Nguồn vốn dài hạn thường bao gồm vốn chủ sở hữu, các quỹ của doanh nghiệp, lợi nhuận chưa phân phối và các khoản nợ dài hạn như vay dài hạn, trái phiếu doanh nghiệp hoặc các khoản tín dụng có thời hạn thanh toán trên một năm.
Nguồn vốn kinh doanh không được phân loại là tài sản ngắn hạn hay tài sản dài hạn. Đây là nguồn hình thành nên tài sản của doanh nghiệp, bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản nợ phải trả. Trong khi đó, tài sản mới được phân loại thành tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn dựa trên thời gian sử dụng hoặc thu hồi. Do đó, nguồn vốn kinh doanh là một khái niệm độc lập với việc phân loại tài sản ngắn hạn và dài hạn.
Nhận ký quỹ, ký cược ngắn hạn là nguồn vốn, không phải tài sản của doanh nghiệp. Đây là khoản tiền hoặc tài sản mà doanh nghiệp nhận từ tổ chức, cá nhân khác để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng và có trách nhiệm hoàn trả khi đáp ứng đủ điều kiện. Trên bảng cân đối kế toán, khoản nhận ký quỹ, ký cược ngắn hạn được ghi nhận vào nợ phải trả, thuộc nhóm nguồn vốn của doanh nghiệp.
“Tài sản nợ khác” không phải là một loại tài sản mà thường được hiểu là các khoản nợ phải trả khác của doanh nghiệp. Về bản chất, đây là các nghĩa vụ tài chính mà doanh nghiệp phải thanh toán trong tương lai nên được xếp vào nguồn vốn, cụ thể là nhóm nợ phải trả trên bảng cân đối kế toán. Do đó, nếu đang đề cập đến các khoản nợ khác của doanh nghiệp thì chúng thuộc nguồn vốn chứ không phải tài sản.
Chi phí phải trả là nguồn vốn, không phải tài sản. Đây là khoản chi phí đã phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh trong kỳ nhưng đến thời điểm lập báo cáo doanh nghiệp chưa thanh toán. Do thể hiện nghĩa vụ phải trả trong tương lai, chi phí phải trả được ghi nhận vào nợ phải trả trên bảng cân đối kế toán và thuộc nhóm nguồn vốn của doanh nghiệp.